logo

[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Ngành chăn nuôi đang trong quá trình phát triển và tái cơ cấu mạnh theo hướng tập trung, công nghiệp và hội nhập quốc tế. Sản lượng các sản phẩm chăn nuôi duy trì ở mức tăng trưởng cao của ngành nông nghiệp, trong đó thịt các loại tăng trung bình từ 4,5-5,0%, trứng gia cầm tăng 7-8% sữa tươi 7-8%/năm đã hình thành một số ngành công nghiệp khá mạnh, tạo tiền đề cho phát triển chăn nuôi, như ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, thủy sản (viết gọn là TĂCN), công nghiệp chế biến sữa…

Thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam

Theo Cục Chăn nuôi, ngành TĂCN sau hơn 20 năm hội nhập đã thu hút được nhũng thành tựu rất lớn, mức tăng trưởng trung bình từ 10-15%/năm, đã đưa Việt Nam trở thành nước có tốc độ ngành công nghiệp TĂCN phát triển nhanh nhất khu vực. Năm 2017, cả nước có 245 nhà máy TĂCN và 120 nhà máy thức ăn thủy sản với tổng công suất thiết kế lên trên 30,0 triệu tấn/năm và có trên 250 cơ sở sản xuất thức ăn bổ sung. Với sản lượng TĂCN công nghiệp năm 2017 là: 19,381 triệu tấn.

Chất lượng của TĂCN công nghiệp đã có nhiều cải thiện thông qua chỉ số FCR đối với lợn thịt nuôi theo hướng công nghiệp dao động từ 2,5-2,7kg TA/kg tăng trọng, gà công nghiệp từ 1,6-1, 8 kgTA/kg tăng trọng, tương đương với các nước phát triển trong khu vực. Đặc biệt, ngành TĂCN cũng là ngành thu hút được đầu tư trong và ngoài nước cao nhất trong lĩnh vực nông nghiệp mà gần 100% đều là vốn của tư nhân. Ngành TĂCN cũng là ngành có mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng nhất, với trên 65 nước và vùng lãnh thổ có trao đổi buôn bán về công nghệ, thiết bị và nguyên luệ TĂCN thuộc top mới và hiện đại nhất hiện đại và mới nhất. Thị trường Việt Nam có mặt hầu hết các hãng TĂCN lớn và nổi tiếng trên thế giới, các thông tin về giá nguyên liệu trong nước được kết nối, hàng ngày với các trung tâm buôn bán nguyên liệu lớn trên thế giới như châu Mỹ, châu Âu..

Tuy nhiên, ngành TĂCN công nghiệp trong nước cũng còn rất nhiều tồn tại, bất cập, đó là:

Chất lương chưa ổn định, độ an toàn thấp, nhất là đối với các loại thức ăn bổ sung, thức ăn tự phối trộn, điều này chưa đựng nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng không tốt đến năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm các sản phẩm chăn nuôi và gây ô nhiễm môi trường.

Tỷ trọng nguyên liệu TĂCN nhập khẩu ngày càng lớn và gia tăng, nhất là nhóm TĂ bổ sung thì cơ bản là nhập khẩu hoặc nhập nguyên liệu về để gia công, phối trộn làm giảm giá trị gia tăng của sản xuất trong nước.

Phân bổ các nhà máy, cơ sở chế biến TĂCN không đều, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã gây ra tình trạng bất hợp lý là những vùng sâu, vùng xa, vùng cao… các nơi này giá bán sản phẩm chăn nuôi thấp hơn nhưng giá TĂCN lại cao và chất lượng TĂCN thường không đảm bảo, phần lớn thuộc phân khúc thị trường của các công ty nhỏ, công ty gia công (sản phẩm TĂCN trở lên các tỉnh Tây Bắc có thể phát sinh từ 700-800 đồng/cước phí vận tải).

Năng lực về công nghệ, quản trị kinh doanh, quản lý chất lượng sản phẩm và thị trường còn chênh lệch nhiều giữa các công ty lớn và doanh nghiệp nhỏ, giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong đó, các doanh nghiệp nhỏ, các cơ sở gia công trong nước ngày càng yếu thế khi cạnh tranh và cũng phát sinh các vi phạm về chất lượng an toàn thực phẩm TĂCN như: nhà xưởng, kho tàng, nhân viên kỹ thuật thường không đáp ứng được yêu cầu; lạm dụng kháng sinh; sử dụng chất cấm, các nguyên liệu ngoài danh mục không được cho phép dùng trong chăn nuôi; sử dụng nguyên liệu kém chất lượng, sản phẩm hết hạn hoặc cận hết hạn… là nhưng nguyên nhân làm giảm hiệu quả và gia tăng nguy cơ mất an toàn của TĂCN

Chi phí sản xuất, kinh doanh TĂCN lớn và bất cập, nhất là chi phí mặt bằng, kho bãi, vận tải, thanh kiểm tra.. gây giá thành sản phẩm và cho người sản xuất kinh doanh.


Tin tức liên quan